Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 137/2026/TT-BTC ngày 24/9/2026, kèm theo hai chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về quản lý chất lượng. Hai chuẩn mực áp dụng từ ngày 01/01/2029 và thay thế chuẩn mực kiểm soát chất lượng VSQC1 tại Thông tư 214/2012/TT-BTC. Sau gần mười bốn năm, khung quản lý chất lượng của hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam được thay bằng một cách tiếp cận khác về bản chất.
Hai chuẩn mực và đối tượng áp dụng
VSQM1 quy định về quản lý chất lượng đối với doanh nghiệp kiểm toán thực hiện kiểm toán, soát xét báo cáo tài chính, dịch vụ đảm bảo và dịch vụ liên quan khác. Đây là chuẩn mực ở cấp độ doanh nghiệp.
VSQM2 quy định về soát xét chất lượng của hợp đồng dịch vụ. Đây là chuẩn mực ở cấp độ từng hợp đồng.
Đối tượng áp dụng gồm doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam, người soát xét chất lượng và các tổ chức có liên quan thực hiện kiểm toán, soát xét báo cáo tài chính, dịch vụ đảm bảo và dịch vụ liên quan.
Hai chuẩn mực được xây dựng trên nền ISQM 1 và ISQM 2 của Ủy ban Chuẩn mực Kiểm toán và Dịch vụ đảm bảo quốc tế (IAASB), hai chuẩn mực đã được nhiều quốc gia áp dụng từ cuối năm 2022.
Kiểm soát chất lượng và quản lý chất lượng khác nhau ở đâu
Hai chữ trong tên gọi mang gần hết ý nghĩa của thay đổi. VSQC1 là kiểm soát chất lượng (Quality Control). VSQM1 là quản lý chất lượng (Quality Management).
Theo VSQC1, doanh nghiệp kiểm toán xây dựng chính sách và thủ tục cho từng yếu tố chuẩn mực đã liệt kê, rồi thực hiện theo. Danh mục yếu tố giống nhau với mọi doanh nghiệp, nên hệ thống của các doanh nghiệp cũng tương tự nhau về hình thức.
VSQM1 đi theo một chu trình khác. Doanh nghiệp kiểm toán tự xác định mục tiêu chất lượng của mình. Từ mục tiêu đó, nhận diện và đánh giá các rủi ro chất lượng có khả năng làm không đạt được mục tiêu. Với từng rủi ro, thiết kế và triển khai biện pháp xử lý tương ứng. Sau đó thiết lập cơ chế giám sát để phát hiện khiếm khuyết của hệ thống, và cơ chế khắc phục khi phát hiện khiếm khuyết. Cuối mỗi kỳ, người chịu trách nhiệm cao nhất về hệ thống đánh giá và kết luận hệ thống có đạt mục tiêu chất lượng hay không.
Năm điểm khác biệt chính giữa hai chuẩn mực:
Cách tiếp cận: VSQC1: xây dựng và thực hiện chính sách, thủ tục theo danh mục yếu tố; VSQM1: đặt mục tiêu chất lượng, nhận diện rủi ro, thiết kế biện pháp xử lý.
Mức độ tùy biến: VSQC1 thấp, danh mục yếu tố áp dụng chung cho mọi doanh nghiệp; VSQM1 cao, phụ thuộc đặc thù từng doanh nghiệp.
Đánh giá định kỳ: VSQC1: giám sát việc tuân thủ chính sách, thủ tục; VSQM1: đánh giá tổng thể hệ thống hằng năm và đưa ra kết luận.
Trách nhiệm: VSQC1: trách nhiệm của Ban Giám đốc đối với chất lượng; VSQM1: chỉ định người chịu trách nhiệm cuối cùng về hệ thống và người chịu trách nhiệm từng phần.
Thời điểm áp dụng: VSQC1 áp dụng đến hết ngày 31/12/2028; VSQM1 áp dụng từ ngày 01/01/2029.
Hệ quả thực tế của cách tiếp cận mới: hai doanh nghiệp kiểm toán cùng tuân thủ VSQM1 có thể có hai hệ thống khác nhau, và điều đó là đúng với thiết kế của chuẩn mực. Rủi ro chất lượng của một hãng có nhiều khách hàng niêm yết, nhiều hợp đồng đòi hỏi xét đoán về giá trị hợp lý và tổn thất tài sản, không giống rủi ro chất lượng của một hãng chủ yếu kiểm toán doanh nghiệp vừa và nhỏ tại một địa bàn.
Điều này cũng có nghĩa là quy chế quản lý chất lượng của một hãng khác không còn dùng lại được. Hệ thống phải xuất phát từ dữ liệu của chính doanh nghiệp: cơ cấu khách hàng, các lĩnh vực có nhiều xét đoán, năng lực và cách phân bổ nhân sự thực tế, và những khiếm khuyết đã từng phát hiện qua soát xét hồ sơ.
Hệ thống 8 thành phần của VSQM1
VSQM1, được xây dựng trên nền của ISQM1, yêu cầu hệ thống quản lý chất lượng bao trùm tám nội dung: (1) quy trình đánh giá rủi ro của doanh nghiệp; (2) quản trị và sự lãnh đạo; (3) yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp; (4) chấp nhận và duy trì quan hệ khách hàng cùng hợp đồng dịch vụ; (5) thực hiện hợp đồng dịch vụ; (6) nguồn lực; (7) thông tin và truyền thông; (8) giám sát và khắc phục khiếm khuyết. Phần lớn nội dung này đã tồn tại trong VSQC1 dưới dạng khác, nên việc cần làm là xác định phần nào giữ được và phần nào phải đổi cách tiếp cận từ tuân thủ thủ tục sang xử lý rủi ro.
VSQM2 và người soát xét chất lượng hợp đồng
VSQM2 quy định về việc một người độc lập với nhóm thực hiện hợp đồng đánh giá lại các xét đoán quan trọng và kết luận của nhóm trước khi phát hành báo cáo. Chuẩn mực siết ba nhóm yêu cầu: điều kiện về năng lực, kinh nghiệm và tính khách quan của người soát xét; phạm vi công việc mà người soát xét phải thực hiện; và hồ sơ phải lưu để chứng minh công việc soát xét đã được thực hiện.
Điểm cần lưu ý trong thực tế của doanh nghiệp Việt Nam: người đủ điều kiện làm soát xét chất lượng hợp đồng thường cũng là người đang phụ trách nhiều hợp đồng của chính mình. Khi yêu cầu về phạm vi và hồ sơ soát xét chặt hơn, khối lượng công việc của nhóm nhân sự cấp cao tăng lên. Đây là vấn đề về nguồn lực và kế hoạch nhân sự, không phải vấn đề về văn bản.
Quy định chuyển tiếp
VSQM2 áp dụng cho hợp đồng kiểm toán và soát xét bắt đầu từ ngày 01/01/2029. Hợp đồng bắt đầu trước ngày này tiếp tục áp dụng VSQC1 tại Thông tư 214/2012/TT-BTC cho đến khi hoàn thành. VSQC1 hết hiệu lực từ ngày 01/01/2029.
Nghĩa là sẽ có một giai đoạn hai chuẩn mực cùng tồn tại trên các hợp đồng khác nhau. Doanh nghiệp kiểm toán cần xác định rõ từng hợp đồng thuộc diện nào và ghi nhận trong hồ sơ, vì cơ quan quản lý có thể kiểm tra nội dung này khi soát xét chất lượng.
Cam kết về chất lượng của PKF-TTG
PKF-TTG là thành viên của PKF Global, mạng lưới các doanh nghiệp kiểm toán và tư vấn độc lập hoạt động tại nhiều quốc gia. Mỗi hãng thành viên trong mạng lưới là một pháp nhân độc lập.
Chất lượng là nguyên tắc nền trong cách PKF-TTG tổ chức công việc. Hệ thống quản lý chất lượng của công ty hiện được vận hành theo ISQM 1 và ISQM 2, hai chuẩn mực quốc tế mà VSQM1 và VSQM2 được xây dựng trên nền. Việc chấp nhận và duy trì quan hệ khách hàng, phân bổ nguồn lực, thực hiện hợp đồng, soát xét chất lượng hợp đồng và giám sát hồ sơ đều đặt trong khuôn khổ đó.
Với Thông tư 137/2026/TT-BTC, PKF-TTG sẽ chuyển hệ thống hiện hành sang khuôn khổ VSQM1 và VSQM2, hoàn tất trước thời điểm áp dụng bắt buộc ngày 01/01/2029. Với lợi thế hệ thống đã đang vận hành đã dựa trên ISQM 1 và ISQM 2, phần việc còn lại chủ yếu là đối chiếu với thuật ngữ và các yêu cầu cụ thể của bản chuẩn mực Việt Nam.
Ấn vào đây để tải toàn văn Thông tư 137/2026/TT-BTC kèm theo các chuẩn mực VSQM1 và VSQM2.
